Thư viện 247 chào

0 khách và 0 thành viên

Tài nguyên dạy học

Thực hiện hệ thống đào tạo theo tín chỉ tại các trường đại học Việt Nam

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: TV 247
Người gửi: Phan Thanh Phú
Ngày gửi: 00h:04' 19-06-2016
Dung lượng: 1.3 MB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích: 0 người
TS. Giáo dục học Vladimir Briller
Giám đốc Nghiên cứu Cơ chế và Kế hoạch Chiến lược
Học viện Pratt , New York, Hoa Kỳ.
vbriller@pratt.edu
THỰC HIỆN HỆ THỐNG ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
VIỆT NAM
Hệ thống Đào tạo theo Tín chỉ tại Hoa Kỳ
Hệ thống đào tạo theo tín chỉ ngày nay đã trở thành phổ biến như một đơn vị đo lường quá trình học tập trong giáo dục đại học Hoa Kỳ
Nó được dùng để:
~phân bổ kinh phí,
~ tính toán kết quả của việc học tập
~ phân công công việc, và
~ bảo đảm chất lượng
KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ
Hai mốc phát triển chính:
1. Một chương trình đào tạo bậc đại học được quy định toàn bộ cùng với những môn học bổ sung mà mỗi sinh viên đều có quyền lựa chọn. Cần “tính toán” hoạt động giảng dạy trong những giới hạn tiêu chuẩn của một môi trường mà mỗi sinh viên có thể bắt tay vào việc học tập qua con đường riêng của mình (Harvard, 1870-s)
Vì các trường trung học khác nhau khá nhiều (ngày nay cũng vẫn vậy), cần phải có một đơn vị tiêu chuẩn để bảo đảm rằng những em sinh viên bước vào bậc đại học về đại thể có cùng trình độ. Do vậy sự mở rộng đồng thời đường vào đại học cũng đòi hỏi phải hợp lý hóa các tiêu chuẩn tuyển sinh đại học
KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ
Giờ tín chỉ là gì?
Một đơn vị để tính “thời gian lên lớp”mỗi tuần được tạo ra theo một đơn vị thời gian giảng dạy xác định
Các biến số:
- Một giờ là thế nào?
- “Đơn vị thời gian giảng dạy" có thể là học kỳ, hoặc ba tháng
- Bài tập ở nhà và các hoạt động thí nghiệm thì được tính như thế nào?
Những định nghĩa ở cấp trường và cấp Liên bang
Những định nghĩa ở cấp tiểu bang và liên bang về giờ tín chỉ dựa trên thời gian lên lớp chính thức được quy định cho một quãng thời gian học tập nhất định.
Định nghĩa của các trường thì khác nhau một cách đáng kể :
(1) Một học kỳ tương đương với “không ít hơn 2000 phút thời gian lên lớp đã được lên lịch, bao gồm cả thời gian thi và kiểm tra” (Indiana State University)
(2) Một tín chỉ là “tương đương với ba giờ học tập mỗi tuần, được tính trung bình dựa trên khoảng thời gian thích hợp cần thiết cho một sinh viên trung bình đạt được điểm số trung bình của môn học. "(University of Minnesota).
tín chỉ đo được những gì?
Tín chỉ là Đơn vị của hoạt động giảng dạy.
Tín chỉ như một đơn vị để tính chi phí.
Tín chỉ như một đơn vị để tính thành quả học tập đạt được :
- nhằm cho phép sinh viên chuyển ngành hoặc chuyển trường
- nhằm xác định xem sinh viên hoàn thành tiến trình học tập ở mức độ nào- hoặc phục vụ cho những mục đích nội bộ như tư vấn và can thiệp, hay cho những mục đích bên ngoài như xem xét hỗ trợ tài chính
Hệ thống Tín chỉ mang lại những thuận lợi gì?
Sự đơn giản: Dựa trên sự tương ứng trực tiếp giữa thời gian và các hoạt động đã được xác định, hệ thống tín chỉ có tính chất minh bạch về mặt khái niệm và (ít nhất về nguyên tắc) có thể áp dụng dễ dàng.

Tính linh hoạt: Hầu hết các trường và các cơ quan, tổ chức đều có thể diễn giải hệ thống này một cách thích hợp thông qua việc xây dựng các tín chỉ tương đương

Sự tín nhiệm: Khái niệm giờ tín chỉ có sức mạnh pháp lý đối với những công chúng khác nhau; nó phù hợp trực tiếp với trải nghiệm của hầu hết mọi người trong quá trình học tập.
Hệ thống tín chỉ có
điều gì không hay?
Sự mâu thuẫn:
Có mức độ dao động trong việc đo lường hoạt động giảng dạy, và trong việc điều chỉnh, chuyển đổi các hoạt động giảng dạy khác với giờ lên lớp truyền thống chẳng hạn như hoạt động thí nghiệm, thực tập, tự học, tự nghiên cứu ..sang giờ tín chỉ;
Có sự khác nhau đáng kể trong chính sách của các trường, theo đó là sự suy giảm tinh thần trung thành với những tiêu chuẩn ban đầu.
Hệ thống tín chỉ có
điều gì không hay?
Sự không thích hợp:
Nhiều hoạt động học tập –mặt đối mặt – diễn ra ngoài phạm vi của lớp học theo kiểu chính thống;
Dùng thời gian “ngồi trên lớp” làm tiêu chuẩn đo lường sẽ hạn chế việc xây dựng chương trình và phương pháp sư phạm qua việc tạo ra những khuyến khích không thích đáng đối với cách xử sự của giảng viên và nhà trường
Hệ thống tín chỉ có
điều gì không hay?
Quan ngại về tính toàn vẹn của văn bằng đại học :
Hệ thống tín chỉ dường như không có khả năng bảo đảm rằng việc học tập thực sự đã được thực hiện.
Hệ thống tín chỉ cũng không phải là một bảo đảm cho kỹ năng và năng lực của người học
Có chăng một giải pháp?
Một “giải pháp”đơn thuần có lẽ không cần thiết và cũng không đáng mong muốn.
Điều quan trọng không phải là hệ thống đơn vị để tính toán mà là những “tiêu chuẩn” hỗ trợ cho nó
Bất cứ cái gì được tính đến trong hệ thống tín chỉ đều phải đặt nền tảng trên thực tiễn đào tạo.
Những gì được tính đến phải có tính chất thẩm tra được
Hệ thống chuyển đổi tín chỉ Châu Âu
Hệ thống chuyển đổi tín chỉ châu Âu(ECTS)

Hệ thống chuyển đổi và tích lũy tín chỉ châu Âu là một hệ thống lấy người học làm trung tâm, dựa trên khối lượng công việc sinh viên được yêu cầu phải thực hiện để hoàn thành mục tiêu của khóa học, những mục tiêu này tốt nhất là được cụ thể hóa dựa theo kết quả học tập cần đạt của khóa học và những năng lực mà sinh viên cần thụ đắc sau khóa học. Hệ thống này được tạo ra nhằm tăng cường sự cơ động của sinh viên và tạo điều kiện chuyển đổi tín chỉ cho những văn bằng liên kết giữa hai trường hoặc nhiều trường trong hàng ngũ các nước đã ký kết Tuyên ngôn Bologna về Giáo dục Đại học châu Âu năm 1999 .
Hệ thống chuyển đổi tín chỉ
Châu Âu
ECTS làm cho các chương trình học tập thành ra dễ đọc và có thể so sánh với nhau đối với tất cả sinh viên bản xứ và sinh viên nước ngoài. ECTS tạo điều kiện cho sự công nhận kết quả học tập giữa các trường và thúc đẩy sự lưu chuyển sinh viên. ECTS giúp các trường tổ chức và duyệt xét lại các chương trình đào tạo của mình. ECTS có thể vận dụng đối với nhiều chương trình đào tạo khác nhau và hình thức tổ chức đào tạo khác nhau. ECTS khiến cho giáo dục đại học Châu Âu hấp dẫn hơn đối với sinh viên nước ngoài..
ECTS dựa trên nguyên tắc 60 tín chỉ là định mức đo lường khối lượng công việc mà một sinh viên học toàn thời gian phải thực hiện trong một năm học. Mỗi năm học có khoảng 36-40 tuần.
Sinh viên được dành thời gian cho hội thảo, tham dự bài giảng, thảo luận nhóm, tự học, viết báo cáo, chuẩn bị thi cử và làm bài thi…Thời gian này được ước lượng là 40-50 giờ mỗi tuần
Hệ thống chuyển đổi tín chỉ
Châu Âu
Một môn học gồm 10 tín chỉ theo hệ thống này theo đó sẽ được tính khoảng 6-7 tuần với khối lượng công việc trung bình là 240-300 giờ. Một tín chỉ trong hệ thống này tương ứng với 24-30 giờ làm việc của một sinh viên trung bình
Tín chỉ trong hệ thống ECTS chỉ có thể đạt được sau khi người học làm tốt những công việc được yêu cầu, và kết quả học tập được đánh giá một cách thích hợp. Mục tiêu học tập được xây dựng dựa trên những năng lực mà sinh viên cần thụ đắc sau khóa học, diễn đạt những gì sinh viên sẽ biết, sẽ hiểu, và sẽ làm được sau khi hoàn thành một tiến trình học tập, dù là dài hay ngắn.
Hệ thống chuyển đổi tín chỉ
Châu Âu
Bằng thạc sĩ gồm 120 tín chỉ tương ứng với 72-80 tuần học tập. Chuyển đổi sang giờ làm việc của sinh viên, bno1 tương ứng với 2880-3600 giờ để hoàn tất bậc học thạc sĩ.
Số giờ này có thể giãn ra trong một quãng thời gian dài hơn đối với sinh viên học bán thời gian. Đơn vị chuyển đổi chính đối với 1 tín chỉ ECTS : 24-30 giờ. Khối lượng công việc này được dồn vào một thời gian nhất định hay trải ra nhiều tuần không phải là điều quan trọng.
Hệ thống chuyển đổi tín chỉ
Châu Âu
Kết quả học tập của sinh viên được ghi nhận qua hệ thống thang điểm của quốc gia hoặc của địa phương. Bổ sung hệ thống cho điểm thống nhất cho ECTS có một ý nghĩa tích cực , nhất là trong trường hợp chuyển đổi tín chỉ. Hệ thống điểm số của ECTS đánh giá sinh viên trên cơ sở thống kê. Bởi vậy dữ liệu thống kê về kết quả học tập của sinh viên là điều kiện tiên quyết để áp dụng hệ thống điểm số của ECTS. Điểm số được cho theo thang bậc như sau:
A tốt nhất 10%
B tiếp theo 25%
C tiếp theo 30%
D tiếp theo 25%
E tiếp theo 10%



Hệ thống chuyển đổi tín chỉ
Châu Âu
Tiến trình Bologna
Mục tiêu của Tiến trình Bologna Process là tạo ra một Không gian Giáo dục Đại học Châu Âu nhằm

Xây dựng những cơ cấu chung
Gia tăng tính cơ động của giảng viên và sinh viên, và
Nâng cao sự hợp tác giao lưu giữa các trường cao đẳng và đại học
Trong các năm 1999 và 2001, các Bộ trưởng Giáo dục Châu Âu đã xác định chín điều sau đây:
1. Thông qua một hệ thống các văn bằng có thể đọc được và so sánh được một cách dễ dàng
2. Thông qua một hệ thống chủ yếu dựa trên hai vòng đào tạo: cử nhân và thạc sĩ
3. Xây dựng hệ thống tín chỉ
4. Thúc đẩy sự lưu chuyển giảng viên và sinh viên
5. Thúc đẩy sự hợp tác của châu Âu trong vấn đề đảm bảo chất lượng
6. Thúc đẩy định hướng Châu Âu trong giáo dục đại học
7. Học tập suốt đời
8. Trường đại học và sinh viên
9. Thúc đẩy sự thu hút của Vùng Giáo dục Đại học Châu Âu
Tiến trình Bologna
ĐIỀU QUAN TRỌNG NHẤT!!!
Hệ thống Tín chỉ là một tiêu chuẩn của việc học tập
Định nghĩa về Chương trình Đào tạo (curriculum)
Khóa học: một chương trình học tập kết hợp từ nhiều môn wordnet.princeton.edu/perl/webwn
Có thể bao gồm cả những trải nghiệm giáo dục khác. Nó cũng có thể được hình thành như một cuộc đối thoại, như những mối quan hệ, và đó là hiện tượng đa dạng vốn là bản chất của quan điểm mô hình đối với chương trình đào tạo en.wikipedia.org/wiki/Curriculum
Tất cả các cơ hội học tập được nhà trường lên kế hoạch cho người học và những kinh nghiệm mà người học thụ đắc khi thực hiện chương trình
Print, M. (1987). Curriculum Development and Design. Allen & Unwin, Sydney.
Vấn đề Chương trình Đào tạo
Chương trình học tập thiết kế cho sinh viên
www.cpf.ca/English/FAQ/FSL%20Glossary.htm
Các khóa học liên quan tập trung vào một lĩnh vực học tập nhất định longwoods.com/website/eletter/glossary.HTML
Một chương trình học tập được sắp xếp với các môn học bắt buộc đối với một ngành đào tạo cụ thể.
catalog.oregonstate.edu/ChapterDetail.aspx
Có ý nghĩa là sự tương tác có kế hoạch giữa sinh viên và nội dung giảng dạy, tư liệu, nguồn lực, và quy trình đánh giá kết quả học tập www.doe.state.in.us/asap/definitions.html
Một chương trình gồm nhiều môn học được chọn nhằm theo đuổi một văn bằng nhất định hoặc nhằm mục tiêu khác. www.netnet.org/students/student%20glossary.htm
Vấn đề Chương trình Đào tạo
Một quan điểm bao quát về chương trình đào tạo
Chương trình đào tạo (Curriculum) có ý nghĩa rộng hơn nhiều so với đề cương bài giảng (syllabus). Đề cương là những nét khái quát về nội dung giảng dạy. Chương trình đào tạo thì năng động hơn và bao gồm tất cả những kinh nghiệm học tập mà nhà trường mang lại cho sinh viên. Nó bao quát cả môi trường học tập, phương pháp giảng dạy, các nguồn lực cung cấp cho việc học, hệ thống đánh giá, nét đặc trưng của nhà trường, và cách cư xử của các giảng viên và sinh viên đối với nhau. Tất cả những điều này tạo nên những kinh nghiệm mà sinh viên sẽ thụ đắc trong quá trình học. Những nhân tố đó cùng nhau hợp thành ý nghĩa, mục đích,và niềm vui của cuộc đời sinh viên. Cần lưu tâm bảo đảm sự phù hợp giữa những định hướng chương trình khác nhau.
‘Xây dựng chương trình’ liên quan tới tất cả các nhân tố của quá trình hình thành một chương trình đào tạo chính thức, bao gồm:
xem xét lại tình hình hiện tại
Xây dựng mục đích và đối tượng
Quyết định nội dung và cấu trúc
Cụ thể hóa các hoạt động học tập và phương pháp giảng dạy, và,
Xây dựng chiến lược đánh giá và thủ tục duyệt xét lại
Trong bối cảnh trường đại học, thuật ngữ “xây dựng chương trình môn học” (‘course development) có xu hướng được dùng thay thế qua lại với từ “xây dựng chương trình đào tạo” (‘curriculum development”). Bời vì có nhiều định nghĩa khác nhau về “chương trình” nên cũng có nhiều kiểu cách xây dựng chương trình khác nhau.
Xây dựng chương trình là gì?
Xây dựng chương trình
Thỏa thuận về kết quả học tập của sinh viên
Xây dựng mục tiêu & đối tượng của môn học
Xây dựng nguồn tư liệu giảng dạy
Thiết kế phương pháp giảng dạy
Thiết kế khuôn thức đánh giá
Xây dựng phạm vi và sự phối hợp
Điều chỉnh chương trình cho thích nghi dựa trên kết quả của đánh giá
Chương trình đào tạo cần được xác định dựa trên nhu cầu đào tạo chuyên môn của sinh viên
Yêu cầu về năng lực và các hoạt động nhận thức của sinh viên cần được coi là nền tảng để xác định nội dung giảng dạy và cần được trình bày rõ ràng trong mục tiêu môn học
Mối tương quan có ý nghĩa giữa các nguyên tắc cơ bản của ngành học và thực tiễn của ngành phải được làm rõ.
Xây dựng chương trình
Xây dựng chương trình
Tài liệu học tập cần được trình bày theo cách khuyến khích sự hiểu biết và tích lũy:
Trình bày tư liệu trong bối cảnh của nó
Tránh quá tải thông tin
c) Tận dụng cơ hội củng cố tri thức
Thiết kế tiến trình liên thông giữa những thông tin, kỹ năng và giá trị có liên quan với nhau
Thiết kế nhằm thụ đắc đồng thời tri thức, kỹ năng và các giá trị chuyên môn.
Kết hợp chặt chẽ kỹ năng quản lý thông tin (tìm kiếm thông tin, tổ chức sắp xếp, đánh giá và áp dụng các thông tin) , dùng kỹ thuật hiện đại nhất của công nghệ thông tin
Ban hành những quy định đánh giá sinh viên cân bằng giữa các tiêu chuẩn về tri thức thực sự và việc ứng dụng tri thức như đã được nêu trong Mục tiêu môn học
Quản trị trường học và quản lý các tổ chức hỗ trợ một chương trình liên thông và xuyên ngành, tận dụng các dữ liệu đánh giá để liên tục cải tiến chương trình
Nhận thức rõ giá trị của công việc giáo dục mà nhà trường và các giảng viên đang thực hiện.
Xây dựng chương trình
Những quyết định về chương trình
Về nhận thức luận:
Những gì cần được coi là:
- tri thức
- sự hiểu biết phải truyền đạt?
Chúng ta có nên xử sự theo cách chia tri thức và hiểu biết thành ra các lãnh vực riêng: tri nhận, cảm nhận, thức nhận hay chúng ta cần một cách tiếp cận toàn thể đối với tri thức và khả năng nhận thức, coi tri thức là một quá trình?
Về mặt chính trị:
~ Ai có quyền kiểm soát việc lựa chọn và truyền đạt tri thức?
~ Vai trò của các nhà giáo dục, của nhà nước, phụ huynh học sinh, của công chúng, của các nhà tuyển dụng, của thị trường
~ Quan hệ giữa các bộ phận của chương trình đào tạo
Những quyết định về chương trình
Những quyết định về chương trình
Về mặt kinh tế:
~ Tri thức đang kiểm soát việc phân phối quyền lực, hàng hóa và dịch vụ hiện nay trong xã hội như thế nào?
Về ý thức hệ
~ Tri thức nào là quan trọng nhất?
~ Tri thức đó là của ai?
Những quyết định về chương trình
:
Những quyết định về chương trình
Về mặt kỹ thuật :
~ Bằng cách nào sinh viên có thể tiếp cận được các tri thức được thiết kế trong chương trình?
~ Phương pháp giảng dạy
~ Kỹ thuật
~ tài liệu giảng dạy:
Về mỹ hoc :
~ Chúng ta nối kết tri thức trong chương trình đào tạo với nhân cách của sinh viên như thế nào?
~ Bằng cách nào chúng ta có thể hành động như những nhà thiết kế chương trình, như những giáo viên khi làm công việc nối kết ấy?
Những quyết định về chương trình
Những quyết định về chương trình
Về đạo đức:
~ Chúng ta nên đối xử với những người khác một cách đúng đắn và có trách nhiệm như thế nào?
~ Những tư tưởng nào về tư cách đạo đức và về xã hội sẽ được coi là nền tảng cho cách nhà trường đối xử với giảng viên và sinh viên?
Những quyết định về chương trình
Về mặt lịch sử:
~ Những truyền thống nào trong lãnh vực này đang còn tồn tại có thể giúp chúng ta trả lời những câu hỏi ấy?
~ Với những nguồn lực khác nào chúng ta cần đi xa hơn?
Thiết kế chương trình đào tạo
Các môn học bắt buộc và các môn học tự chọn: tỉ lệ sẽ dựa trên chương trình đào tạo ~ Kinh nghiệm Hoa Kỳ
~ Kinh nghiệm Châu Âu
~ Kinh nghiệm nước Nga
~ Kinh nghiệm Trung Á
Một số ví dụ về phân phối giờ tín chỉ
Cử nhân Sử học (tối thiểu 123 tín chỉ)
Môn học Lịch sử đem lại cho sinh viên sự hiểu biết rộng rãi về lịch sử thế giới và nền tảng văn hóa của xã hội hiện đại. SV sẽ học phương pháp nghiên cứu và trình bày lịch sử không chỉ cần cho các nhà sử học mà còn cần cho những người theo đuổi các ngành nghề như quản lý nhà nước, giáo dục, luật pháp, truyền thông, kinh doanh, và những lãnh vực khác. Dù không bắt buộc, SV nên nắm vững ít nhất là một ngoại ngữ, nhất là những người muốn học tiếp bậc học cao hơn về lịch sử.
Một số ví dụ về phân phối giờ tín chỉ
Những yêu cầu của môn học
Môn học đòi hỏi 39 tín chỉ về lịch sử với điểm thi hết môn là C hoặc cao hơn.
Những yêu cầu cụ thể là:
6 tín chỉ tổng quan về văn minh phương Tây.
6 tín chỉ về môn lịch sử Hoa Kỳ (bất cứ mức nào) 6 tín chỉ về Lịch sử so sánh, hoặc lịch sử Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ Latin, Lịch sử thế giới (bất cứ cấp nào)
6 tín chỉ trong Seminar về Lịch sử trong 2 học kỳ năm cuối. SV năm thứ hai nếu đạt yêu cầu cũng có thể đăng ký tham gia nếu còn chỗ
15 tín chỉ bổ sung về lịch sử, ít nhất 12 trong số này được học ở mức 300 hoặc 400
Cử nhân về Lịch sử
Năm thứ nhất
Học kỳ 1 (17-18 credits)
Sơ đồ Lịch sử Phát triển của Nhân loại (3)
Kỹ năng dùng tiếng Anh: Viết, Nói, và Tư duy I (3)
Đại số I (4) hay
Toán học Giới hạn và Đại số 1 I (4) hay
Đại số Đại cương I (3)
Khoa học máy tính với các trục trặc công việc (3)
Môn tự chọn (Khoa học tự nhiên) (3)
Seminar cho SV năm thứ nhất(1)
Cử nhân về Lịch sử
Học kỳ 2: (18 tín chỉ)
 Lịch sử văn minh phương Tây (3)
 Nhập môn Xác suất Thống kê (3)
 Khoa học xã hội (3) 
 Hóa Đại cương II (3)
 Thí nghiệm Hóa Đại cương (2)
 Vật lý II (3)
 Vật lý II Thí nghiệm (2)
 Giáo dục Thể chất (1) 
Mùa hè I: (8 tín chỉ)
Sinh vật học đại cương I (3-4)
Sinh vật học đại cương II (3-4)
Cử nhân về Lịch sử
Năm thứ hai
Học kỳ 1 (16 tín chỉ)
Lịch sử văn minh phương Tây(3) 
Môn tự chọn (Lịch sử Hoa Kỳ) (3)  
Môn tự chọn Khoa học Xã hội: GUR (3)  
Môn tự chọn (Tự do) (3)  
Môn tự chọn (Tự do) (3)  
Môn tự chọn Giáo dụcThể chất: (1) 
Cử nhân về Lịch sử
Học kỳ 2: 17 tín chỉ
Lịch sử Y tế/Sức khỏe (3) 
Lịch sử So sánh/ Toàn cầu (3) 
Lịch sử Hoa Kỳ (3) 
Khoa học Xã hội: (3) 
Hóa hữu cơ II (3)
Hóa hữu cơ II Thí nghiệm(2)
Mùa hè II (3 tín chỉ)
Thực tập hoặc tự nghiên cứu về ngành Y tế hoặc Lịch sử Y tế/ Sức khỏe (3) 
Cử nhân về Lịch sử
Năm thứ ba
Học kỳ 1: (15 tín chỉ)
Seminar cho sinh viên năm thứ ba: Các tài liệu cần đọc (3)
Lịch sử (gặp giáo sư hướng dẫn) (3)
Các nguyên tắc quản lý (3)
Môn tự chọn : Lịch sử ngành Y tế/Sức khỏe (3)
Môn tự chọn (Tự do) (3)
2nd Semester: (15 credits)
Seminar cho sinh viên năm thứ ba : Nghiên cứu (3)
Môn tự chọn (Lịch sử so sánh/Toàn cầu) (3)
Môn tự chọn (Lịch sử) (3)
Môn tự chọn (Tự do)(3)
Môn tự chọn Tự do) (3)
Cử nhân về Lịch sử
Các môn tự chọn
Lịch sử Hoa Kỳ (6 tín chỉ): SV chọn hai môn trong lịch sử Hoa Kỳ, ở bất cứ trình độ nào
Lịch sử so sánh/Toàn cầu(6 tín chỉ): SV chọn 2 môn trong số Lịch sử so sánh, hoặc lịch sử Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ Latin, Lịch sử thế giới (bất cứ trình độ nào)
Lịch sử (6 tín chỉ): SV chọn 3 môn Lịch sử (9 tín chỉ) ít nhất có 2 môn phải ở trình độ 400 hoặc hơn.
Lịch sử ngành y tế/sức khỏe (6 tín chỉ): SV chọn 2 môn trong danh sách, ít nhất có một môn được học sâu hơn
Thực tập hoặc tự nghiên cứu về ngành Y tế hoặc Lịch sử Y tế/ Sức khỏe (3 tín chỉ): SV chọn một đề tài nghiên cứu độc lập dưới sự tư vấn của giáo sư hướng dẫn
Các môn tự chọn(tiếp theo)
Tự do (9 tín chỉ): SV chọn các môn tự chọn phù hợp với sự tư vấn của giáo sư hướng dẫn
Giáo dục Thể chất GUR* (2 tín chỉ): SV đăng ký học toàn thời gian 2 học kỳ liên tiếp phải học 2 môn PE, 1 trong 2 phải là môn nòng cốt thích hợp ở trình độ 100.
Khoa học Xã hội GUR (6 tín chỉ): Ít nhất 6 tín chỉ về khoa học xã hội cơ bản ( trình độ 100 và 200). SV khoa lịch sử được khuyến khích hoàn thành yêu cầu này trong 2 học kỳ liên tục về một môn khoa học xã hội như nhân loại học, khoa học chính trị, tâm lý học, xã hội
Tất cả sinh viên đều phải viết báo cáo khoa học, một việc đòi hỏi kết hợp các phương pháp chép sử với các phương pháp nghiên cứu học được trong các buổi thảo luận.
(* GUR: General University Requirements: Yêu cầu chung của nhà trường)
Cử nhân Khoa Kỹ thuật Cơ khí
(Tối thiểu 129 tín chỉ)
Năm thứ nhất
Học kỳ 1 (18-19 tín chỉ)
Hóa Đại cương I (3) 
Cơ bản về Thiết kế Kỹ thuật (2) 
Kỹ năng dùng tiếng Anh: Viết, Nói, và Tư duy I (3) 
Đại số học I (4) 
Vật lý I (3) 
Vật lý I Laboratory (2) 
Seminar cho SV năm thứ nhất (1) 
Giáo dục Thể chất (tự chọn) (1) 
Cử nhân Khoa Kỹ thuật Cơ khí
(Tối thiểu 129 tín chỉ)
Học kỳ 2 (17 tín chỉ)
 Thí nghiệm Hóa Đại cương (1)
 Hóa Đại cương II (3)
Lập trình Máy tính và giải quyết các sự cố   (2)
  Kỹ năng dùng tiếng Anh: Viết, Nói, và Tư duy I II (3)
 Đại số II (4)
 Vật lýII (3)
 Vật lý II Thí nghiệm (1)
Cử nhân Khoa Kỹ thuật Cơ khí

Năm thứ hai
Học kỳ 1
Thế giới Thế kỷ XXI (3)
Đại số III A (3)
Xác suất Thống kê cho Kỹ sư (2)
Kỹ thuật Cơ khí (2)
Quy trình và Vật liệu Kỹ thuật (3)
Xã hội, Kỹ thuật và Môi trường (3)
Tự chọn: Giáo dục Thể chất (1) 
Cử nhân Khoa Kỹ thuật Cơ khí

Học kỳ 2 (15 tín chỉ)
Phương trình vi phân (4)
Động học của máy móc (3)
Động lực học (2)
Sức bền vật liệu (3)
Kinh tế học (3)
Cử nhân Khoa Kỹ thuật Cơ khí

Năm thứ ba
Học kỳ 1 (15 tín chỉ)
Các nguyên tắc điện kỹ thuật (3)
Đại cương Động lực học Hệ thống (3)
Nhiệt động lực học I (3)
Phân tích lực căng (3)
Đạo đức nghề kỹ sư và Thực tiễn : những quan điểm triết học về kỹ thuật (3)

Học kỳ 2 (15 tín chỉ)
Cơ học chất lỏng (3)
Nhiệt động lực học II (3)
Thiết kế máy móc (3)
Thí nghiệm cơ khí I (3)
Khái quát vè Thiết kế có trợ giúp của Máy tính(3)
Cử nhân Khoa Kỹ thuật Cơ khí
NĂM THỨ TƯ
HỌC KỲ 1 (17 TÍN CHỈ)
Thiết kế hệ thống cơ khí I (3)
Thí nghiệm cơ học II (2)
Chuyển đổi Nhiệt (3)
Tự chọn (Open:GUR) (3) 
Tự chọn (ME/TE) (3) 
Tự chọn (ME/TE) (3) 
HỌC KỲ 2 (16 TÍN CHỈ))
Thí nghiệm cơ học III (2)
Thiết kế hệ thống cơ khí II (2)
Tự chọn (ME/TE) (3) 
Tự chọn (ME/TE) (3) 
Tự chọn (Quản lý: GUR) (3) 
Tự chọn (Capstone Seminar: GUR) (3) 
Cử nhân Khoa Kỹ thuật Cơ khí
Các môn tự chọn
Các môn tự chọn trong Khoa học Xã hội và Nhân văn: SV phải học một môn ở trình độ 300 trong số các môn sau đây: Tiếng Anh, lịch sử , văn học, triết học, khoa học, kỹ thuật, xã hội, hay nghệ thuật biểu diễn. SV cũng có thể hoàn thành yêu cầu này bằng môn Lịch sử Kiến trúc
Hội thảo tổng kết về Khoa học Xã hội và Nhân văn: tất cả SV, trừ những người ghi danh vào các chương trình đặc biệt, phải tham dự.
Giáo dục thể chất GUR: Sinh viên đăng ký học toàn thời gian trong một hay hai học kỳ liên tiếp phải học 2 khóa Giáo dục Thể chất, một trong hai phải là khóa học cơ bản ở trình độ 100.
Cử nhân Khoa Kỹ thuật Cơ khí
Môn tự chọn (tiếp theo)
Quản lý GUR.
ME/TE: Phải được chọn trong danh sách các môn của Khoa Kỹ thuật Cơ khí. Bất cứ môn nào khác đều phải được sự chấp thuận trước của khoa.
Thực tập
Các môn thực tập có thể thay thế môn tự chọn về kỹ thuật hoặc một môn khác được giáo sư hướng dẫn chấp thuận. Cần có sự chấp thuận trước của giáo sư hướng dẫn.
Thạc sĩ về Khoa học Giao tiếp Kỹ thuật và Chuyên môn

Chương trình này được thiết kế nhằm chuẩn bị cho sinh viên trong lãnh vực giao tiếp kỹ thuật. SV học cách tiếp cận những vấn đề giao tiếp trong lĩnh vực kỹ thuật theo một cách thức khoa học và chuyên nghiệp, phát triển năng lực tư duy phản biện, khả năng giải quyêt vấn đề, xác định lộ trình công việc một cách hiệu quả và hợp đạo đức. Chương trình này giúp cho sinh viên và những người làm việc trong ngành truyền thông những kỹ năng:
Truyền thông dùng phương tiện kỹ thuật số
Thiết kế xem người sử dụng là trọng tâm
Khả năng kiểm tra và quản lý thông tin
Phương pháp nghiên cứu và lý thuyết truyền thông nâng cao
Biên tập kỹ thuật
Viết và trình bày ý kiến trong nhóm, trong hợp tác, và trong các vấn đề kỹ thuật
Thí dụ về CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THẠC SĨ
Yêu cầu tuyển sinh:

SV phải có bằng cử nhân trong lãnh vực khoa học, khoa học máy tính, khoa học kỹ thuật hay một lãnh vực khác với những kinh nghiệm hoặc quan tâm mạnh mẽ về khoa học kỹ thuật
Một bài viết trình bày về việc khóa học này sẽ đáp ứng những mục tiêu nghề nghiệp và mục tiêu cá nhân của ứng viên như thế nào;
Một bản tóm tắt lý lịch hiện nay;
Hai thư giới thiệu;
Một hồ sơ bao gồm những tác phẩm hay kết quả công việc liên quan tới lãnh vực chuyên môn mà sinh viên đã thực hiện trước đây (bài viết, trang web, dĩa CD hay những thứ khác có thể cho thấy khả năng của sinh viên)
Đơn xin học theo mẫu
Bảng điểm và bằng cấp, chứng chỉ trước đó
Điểm GRE scores (Tất cả ứng viên quốc tế đều phải có điểm GRE, cũng như các ứng viên học lấy tấm bằng sau cùng của họ bên ngoài nước Mỹ, những sinh viên muốn xin những học bổng dành cho cá nhân dựa trên thành tích học tập. Những ứng viên khác không cần phải có điểm GRE
Điểm TOEFL 550 (thi viết) và 213 (thi bằng máy tính) đối với mọi ứng viên quốc tế.
Thí dụ về CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THẠC SĨ
Những yêu cầu để được cấp bằng
SV phải hoàn tất tổng số 30 tín chỉ các môn. Những SV được nhận vào học phải thiết kế và duy trì một hồ sơ bằng phương tiện kỹ thuật số về những tác phẩm hay công việc mà mình đã hoàn tất trong phạm vi các seminar. Những tác phẩm này được bố trí theo các chủ đề về những năng lực cốt yếu mà sinh viên cần có trong phạm vi khóa học và sẽ được các giảng viên duyệt xét lại. Việc duyệt xét này, về bản chất có tính chất tổng hợp và phong phú về thông tin, sẽ cho phép sinh viên chứng minh mức độ nắm vững chuyên môn và cho thấy những kỹ năng này là hết sức cần thiết trong thị trường lao động.
Thí dụ về CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THẠC SĨ
1. Những môn chủ yếu (15 tín chỉ)
Giao tiếp Kỹ thuật và Chuyên môn Nâng cao (3 tín chỉ)
Những đổi thay về kỹ thuật và văn hóa (3 tín chỉ) 
Nghiên cứu và Lý thuyết Truyền thông (3 tín chỉ) 
Những nhân tố của Thiết kế Trực quan (3 tín chỉ)   
Thiết kế trực tuyến nâng cao Advanced Online Design (3 tín chỉ )
2. Dự án bắt buộc (3 credits)
Thí dụ về CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THẠC SĨ
Thí dụ về CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THẠC SĨ
3. Những môn tự chọn (12 tín chỉ). Có thể lựa chọn trong số các môn:
Đánh giá siêu văn bản: Phân tích Nhiệm vụ và Người sử dụng (3 tín chỉ)
Lý thuyết và thực hành Giải mã Văn bản (3 tín chỉ)
Viết dự án (3 tín chỉ)
Làm việc trong nhóm: Hợp tác và truyền thông giao tiếp giữa các cá nhân với nhau (3 tín chỉ)
Biên tập Kỹ thuật và chuyên môn (3 tín chỉ)
Thực hành Thiết kế siêu văn bản (3 tín chỉ)
Giải quyết những vấn đề truyền thông và môi trường (3 tín chỉ)
Quản lý Nội dung và Kiến trúc Thông tin (3 tín chỉ)
Truyền thông Y tế (3 tín chỉ)
Truyền thông Tập thể (3 tín chỉ)
Truyền thông Giao tiếp trong Chuyển giao Sáng kiến và Kỹ thuật (3 tín chỉ)
Thiết kế Web (3 tín chỉ)
Các chuyên đề tự chọn về Giao tiếp Kỹ thuật và Chuyên môn (3 tín chỉ)
Luận văn thạc sĩ (6 tín chỉ)
Nghiên cứu độc lập về Giao tiếp Kỹ thuật và Chuyên môn (3 tín chỉ)
Lưu ý:  SV cũng có thể chọn 2 môn (6 tín chỉ) của một trường đại học khác.
Một số vấn đề trong việc thực hiện học chế tín chỉ ở các nước thuộc Liên bang Soviet cũ
Chương trình học tập cứng nhắc (chuyên ngành hẹp)
~ Quá nhiều môn bắt buộc
~ Không có đủ nhiều loại sách giáo khoa
~ Thiếu kinh nghiệm áp dụng những cách tiếp cận khác nhau ở những cấp đào tạo khác nhau (cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ)
~ Thiếu những giảng viên trình độ cao
~ Thiếu thành phần nghiên cứu
~ Mục tiêu học tập hầu hết chỉ bao gồm kiến thức thực tế
~ Việc điều hành quản lý chưa sẵn sàng cho việc sử dụng khuôn mẫu mới
~ Thiếu kinh nghiệm trong việc đánh giá tín chỉ để chuyển đổi hoặc đánh giá tín chỉ cho sinh viên quốc tế
~ Muốn thực hiện học chế tín chỉ cần phải cài cách tài chính giáo dục đại học
Tầm quan trọng của dữ liệu
trong một trường đại học hiện đại
Thực trạng hiện nay

Việc quản lý có đặc điểm không gắn bó với từng giai đoạn của quá trình thông tin theo chu kỳ

Quản lý thời gian, làm việc theo nhóm, mạng lưới cộng tác chưa được coi là những phần cốt yếu của kỹ năng quản lý

Kỹ năng thông tin ở các cấp quản lý có nhiều trình độ khác biệt
Liên hệ cá nhân vẫn là nguồn thông tin chủ yếu

Hiểu biết về bối cảnh mà trong đó việc tiến hành một thao tác thông tin cũng là điểm cốt yếu trong việc hoàn thành nó một cách thành công.

Việc ủy nhiệm cho từng giai đoạn cũng chưa phổ biến: cần có một cơ cấu rõ ràng hơn
Dữ liệu có thể được dùng cho:
Lãnh đạo việc tập trung chú ý và nỗ lực vào nâng cao chất lượng học tập của sinh viên. Cả những dữ liệu định tính và định lượng đều có thể giúp xác định những gì sinh viên biết được và có thể làm được, có thể cho thấy những nhân tố nào trong việc giảng dạy nên được cải tiến, chẳng hạn thống qua đánh giá trên lớp về những cách giảng dạy khác nhau và tập hợp những đánh giá này theo tiêu chí năng lực, theo hình thức đánh giá nhằm chọn lọc những cách giảng dạy tốt nhất và khích lệ nó phát triển; hoặc thông qua tự đánh giá của sinh viên.v.v.

Lãnh đạo việc hướng dẫn học tập từng ngành. Dữ liệu định tính và định lượng về nhiều nhân tố trong chuyên môn của từng ngành có thể gợi lên nhiều trao đổi hữu ích giữa giảng viên và các nhà quản lý. Trong tay một nhà quản lý có kinh nghiệm, dữ liệu trở thành công cụ để tập trung vào việc học tập chuyên môn và nâng cao chất lượng hoạt động thực tiễn hàng ngày.

Chủ trương hướng dẫn cái gọi là “học tập hệ thống”. Nhiều dữ liệu khác nhau có thể cung cấp một bức tranh hành chức của hệ thống như một tổng thể, lưu trữ những kết quả đạt được và giúp chỉ ra những vấn đề trục trặc cần giải quyết.
Ra quyết định dựa trên cơ sở dữ liệu
Ra quyết định dựa trên cơ sở dữ liệu không chỉ là vấn đề bày ra các điểm bài thi, đánh dấu những điểm yếu, đề ra vài phương thuốc, những thứ đã có thể thấy rõ trong dữ liệu. Việc ra quyết định dựa vào dữ liệu thực sự chỉ là một phần của vấn đề dữ liệu. Một chủ trương và tầm nhìn rõ ràng đóng vai trò chính trong vấn đề ra quyết định dựa trên dữ liệu
Các nhà lãnh đạo giáo dục
sử dụng dữ liệu như thế nào?
Các nhà lãnh đạo giáo dục
sử dụng dữ liệu như thế nào?
Các nhà lãnh đạo giáo dục
sử dụng dữ liệu như thế nào?
Các nhà lãnh đạo giáo dục
sử dụng dữ liệu như thế nào?
Các nhà lãnh đạo giáo dục
sử dụng dữ liệu như thế nào?
Các nhà lãnh đạo giáo dục
sử dụng dữ liệu như thế nào?
Các loại dữ liệu cần cho người lãnh đạo
trong một môi trường phong phú thông tin
Hệ thống các chỉ báo của dữ liệu có thể cho biết những dấu hiệu cảnh báo về hoạt động của hệ thống
Thành tựu mà sinh viên đạt được,
Những xu hướng trong khoảng cách giữa hiện tại với thành tựu
Sức thu hút của nhà trường đối với sinh viên (nhà trường có khả năng hấp dẫn sinh viên như thế nào)
Sự gắn bó của sinh viên đối với nhà trường (vd: sự chuyên cần thể hiện qua có mặt thường xuyên)
Tỉ lệ sinh viên bỏ học/ hoàn thành chương trình học,
Sức thu hút của nhà trường trong việc giữ chân các giảng viên
Sự công bằng trong vấn đề tài chính.
Chuyên viên đào tạo
ở trường đại học
Chức danh cán bộ đào tạo (registrar) này đã có từ cuối thế kỷ XII. Người tiếp tân của các đại học ở Bologna, Paris và Oxford đã là viên chức công bố các thông điệp, lịch học, được ủy nhiệm thi hành và phấn phối thông tin, duy trì trạng thái bình thường của trường đại học . Ở Oxford, họ ra thông báo bằng tiếng Latin, thu thập các phiếu bầu, phục vụ các trát của tòa, áp giải các kẻ phạm tội vào tù. Người giữ chức danh này có cương vị cao hơn những người khác và được cung cấp giày và thực phẩm
Chuyên viên đào tạo
ở trường đại học
Một chuyên viên đào tạo được gọi là “registrar" (phụ trách việc đăng ký) được bổ nhiệm ở Oxford năm 1446. Bổn phận của người này là đưa ra những hình thức ổn định cho các hoạt động công của nhà trường, soạn thảo các văn bản, thực hiện các bản copy, đăng ký tên những sinh viên tốt nghiệp và những bài làm của họ. Vi trí này ngày nay tiến triển thành chuyên viên đăng ký phục vụ như một thư ký khoa với tất cả những công việc liên quan như chuẩn bị thời khóa biểu, giữ các biên bản họp, tổ chức các việc tương ứng và có khi thu cả học phí
Ở Tân Thế giới, một giảng viên của Harvard thực hiện việc lưu trữ dữ liệu như một việc làm bán thời gian mãi cho đến giữa thế kỷ XiX, nhưng Yale thì có nhân viên tiếp tân chuyên trách như thế theo truyền thống Cựu Thế giới. Các giáo sư tiếp tục phục vụ như một nhân viên đăng ký làm việc bán thời gian đến cuối thế kỷ 17 cho đến khi công việc này trở thành chuyên biệt và có vai trò quản lý nhiều hơn. Vị trí công tác này trở thành một công việc toàn thời gian khi Stanfort mở cửa năm 1891.
Chuyên viên đào tạo
ở trường đại học
Vị trí của chuyên viên đào tạo, một trong những chức danh quản lý đầu tiên trở thành một chuyên gia, được xác lập năm 1887. Đến năm 1933, 80% các chuyên viên đăng ký là cán bộ quản lý chuyên trách toàn thời gian. Để đáp ứng với mức tăng của sinh viên, trong những năm 20 và 30, một người chuyên viên đăng ký thực hiện một khối lượng công việc mà ngày nay được tiến hành bởi các trưởng phòng chức năng, các chuyên viên tư vấn, chuyên viên phòng kế hoạch tài chính, chuyên viên phòng tổ chức, chuyên viên phòng đào tạo phụ trách tuyển sinh, chuyên viên tư vấn hướng nghiệp, và trưởng phòng công tác sinh viên
Chuyên viên đào tạo
ở trường đại học
Cán bộ đào tạo của trường đại học phải đáp ứng các yêu cầu sau:
Hiểu biết và tôn trọng quyền con người và quyền công dân cũng như trách nhiệm của từng cá nhân trong việc hỗ trợ và bảo vệ các nguyên tắc của công bằng và tin cậy
Trung thành với nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính, tuổi tác, tình trạng khuyết tật, tôn giáo hay nguồn gốc quốc gia
Tiêu biểu cho quan điểm của nhà trường, không thiên về những định kiến hay mối quan tâm có tính cá nhân
Phù hợp với những chủ trương hỗ trợ cho các mục tiêu nghề nghiệp của chúng ta
Chuyên viên đào tạo
ở trường đại học
Tự khẳng định khi các chủ trương hay thực tiễn có vẻ như mâu thuẫn với triết lý và mục tiêu của ngành hay của nhà trường

Tham gia và đóng góp vào việc phát triển các hoạt động chuyên môn để bảo đảm hiệu quả và quản lý tốt các nguồn lực, dữ liệu và nhân sự.

Truyền thông và diễn giải một cách rõ ràng các tiêu chuẩn tuyển sinh, chi phí học tập, các nguồn hỗ trợ tài chính, những chính sách hỗ trợ đối với sinh viên và ch
 
Gửi ý kiến

↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓